Nokia 8600 Luna - Phong cách mới của dòng 8XXX
Sự trình làng mẫu Nokia 8600 Luna cho loại Live Prenium sẽ đáp ứng lòng mong mỏi của khách hàng và còn hơn thế nữa. Nokia 8600 rẻ hơn Nokia 8800 khoảng 250 Euro. Không những thế nó còn vượt trội Nokia 8800 về mặt chức năng cùng với kích thước nhỏ gọn vừa lòng tay. Với nhiều ưu điểm như vậy tại sao giá thành của Nokia 8600 lại rẻ đến vậy? Câu trả lời thật đơn giản; Nokia 8600 thấp hơn một chút trên thang vị trí. Luna chỉ thêm chút ít so với các mẫu thuộc dòng 8xxx. Các cảm giác trên nảy sinh là do mong muốn mạnh mẽ về một mẫu điện thoại thay thế Nokia 8800; nhưng bỏ tiền ra để mua một Nokia 8800 Classic hay một mẫu nào đó tương tự thì thật đáng tiếc. Mặc dù vị trí của Luna là ở dưới phiên bản Nokia 8800 Sirocco, chúng ta lên xem xét khía cạnh này theo một cách khác- việc không sử dụng kiểu chuông khác thường mà Nokia 8800 và Nokia 8800 Sirocco sử dụng để thu hút sự chú ý cũng được chỉ ra mặc dù không trực tiếp.
Trong khi chờ đợi một mẫu điện thoại có các giai điệu này, chúng ta hãy cùng khám phá Nokia 8600 Luna.
“Luna” theo thần thoại Hy Lạp là nữ thần măt trăng- người thường được biết đến với cái tên Selena. Nó gợi sự tò mò về những gì được nhắc đến trong các câu chuyện thần thoại- Điều gì đã xảy ra với Latona và người con gái đến từ mặt trời của nàng và tại sao câu chuyện tình yêu giữa Luna và chàng chăn cừu Endymion lại buồn đến thế? Và từ bao đời nay Luna đã được xem là vị thiên sứ của các cặp tình nhân- dưới ánh trăng họ khám phá ra sức mạnh diệu kỳ của tình yêu. Khi Selena bước tới bên các linh hồn, trái tim họ chợt yếu mềm; đôi mắt nàng như đang thêu dệt lên những bức tranh lung linh tuyệt diệu bằng ánh sáng và biển cả đang cuộn sóng xô bờ. Khi đặt cho Nokia 8600 cái tên Luna, các nhà sản xuất muốn liên tưởng đến ánh trăng lấp lánh.
Thiết kế.
Điểm yếu của mẫu Nokia 8800 là tuổi thọ của pin rất ngắn do lớp vỏ kim loại tiêu tốn nhiều năng lượng để truyền tín hiệu ra ngoài. Vì vậy để tăng tuổi thọ pin nhất thiết phải thay đổi chất liệu; đó là lý do Nokia 8600 sử dụng phần cuối bằng kính. Phần đáy của thân trượt được làm bằng kính cứng mặc dù nhìn qua bạn dễ lầm tưởng đó là thép không gỉ như của Nokia 8800. Khi có một cuộc gọi đến, bạn sẽ thấy nhẹ nhàng hiện ra bàn phím đang phát sáng bên dưới.
Không phải dùng búa để thử mà chỉ cần thả rơi Nokia 8600 bạn sẽ thấy ngay kính này bền như thế nào- nó thực sự không làm bạn thất vọng. Trước đây,Motorola là công ty duy nhất sử dụng loại kính này trong các mẫu thiết kế của mình, đặc biệt là ở mẫu KRZR. Nhưng khác ở chỗ trong khi Motorola chỉ sử dụng loại kính này để phủ màn hình và cho các mục đích trang trí khác, ở đây kính được sử dụng làm một phần của vỏ ở phần trượt. Mặc dầu xét về mặt kỹ thuật thì máy di chuyển trong khi vỏ đứng im.
Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta chỉ việc chờ các phản hồi đầu tiên của người sử dụng về độ bền của kính; có vẻ như mọi điều đều sẽ rất tốt đẹp.
Phần gầm chính được làm từ thép không gỉ mặc dù có phần cuối mờ thực sự không giống loại kim loại này. Một loại bột được rải đều khắp bề mặt giúp tạo ra cảm giác hơi ráp khi chạm vào. Điều này rõ ràng khác với mặt dưới được chế tạo bằng nhựa mềm; mục đích của việc tạo lớp phủ ngoài như vậy là để làm vỏ máy chống bụi tối đa. Thực sự là mặt sau thì gần như không để lại vết vân tay hay mồ hôi từ tay nhưng mặt trước hút bụi rất mạnh nên bạn cần sử dụng mảnh vải nhung được kèm theo Luna để lau thường xuyên. Hiện nay không có nhiều mẫu sử dụng lối kết cấu vỏ tương tự- tôi chỉ nhớ duy nhất có Mobiado Luminoso với lớp bột phủ ngoài vỏ nhôm. Thật đáng tò mò khi hai mẫu này chia sẻ nhiều điểm chung về mặt kỹ thuật, cùng dựa trên mẫu Nokia 6233 danh tiếng và có các đặc điểm cơ bản tương tự nhau ( dĩ nhiên là Nokia 8600 ưu việt hơn về mặt chức năng.
Các bộ phận của Nokia 8600 phát sáng làm nổi bật phong cách cũng như độ sáng của điện thoại như lưới kim loại của loa ngoài hay phím chỉnh âm lượng mạ crôm chẳng hạn. Các phần của máy được kết hợp hài hòa trông như một thanh thuần nhất khiến chúng ta không bao giờ phải phàn nàn về cấu tạo của máy.
Có vẻ như là Nokia 8600 sẽ chỉ có dạng màu đen- bởi vì kính được sử dụng gây khó khăn cho việc phối các gam màu khác; tuy nhiên khi tung ra thị trường nên chăng các nhà sản xuất tăng các màu sặc sỡ và các nét đặc trưng. Ví dụ như khi ta quan sát màu sắc của Motorola KRZX ta nhận ra ngay ưu thế của phần cuối bằng kính.
Nếu bạn muốn chắc chắn rằng vỏ làm bằng thép không gỉ, cách duy nhất là tháo nắp pin ra bằng cách ấn khóa ở phía bên trái. Về cơ bản sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra cả khi tắt máy nhưng chỉ có thể đặt nắp vào đúng vị trí khi máy được kéo mở.
Mẫu 8600 có kích thước 107x45x15.9 mm và trọng lượng 140 g- ở Nokia 8800 các thông số tương ứng là: 107x45x17.5 mm, 138 g, gần như không có sự khác biệt. Cả hai đều rất nhỏ gọn tiện lợi dễ dàng cho vào túi quần hay túi nhỏ nào khác. Điều thú vị hơn là kích cỡ khác của các máy trượt mở, Nokia 8600 ngắn hơn 0,5 cm- điều này không ảnh hưởng gì đến khả năng sử dụng của máy. Các nhà sản xuất đã sắp xếp các mini-mét này rất gọn nhờ vào độ cong trên phần trượt – điều này không có ở Nokia 8800. Trong khi cải tiến Nokia 8800, Nokia 8600 giữ lại bàn phím dễ sử dụng với kích cỡ tuyệt vời.
Cơ cấu trượt làm việc tốt; hai nửa trượt nhẹ nhàng lại thêm được sự hỗ trợ của kết cấu cong. Khác với Nokia 8800, mẫu này không tạo ra tiếng lách cách khi mở và cũng ít gây ồn hơn khi bị kéo mở.
Màn hình
Nokia 8600 sử dụng màn hình QVGA, được cấp nguồn nhờ công nghệ TFT (16 mln màu – tất cả đều sáng và rực rỡ) với độ phân giải 240x320 pixel ( kích thước chéo 2 inch, 31x41 mm). Nhà sản xuất không tiến hành bất kỳ sự hiệu chỉnh màu nền nào chẳng hạn như màn hình luôn để tối để tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên người sử dụng có thể chọn tiện ích giữ màn hình ở chế độ chờ và chế độ màu nền tắt/ mở- nếu ở chế độ tắt thông tin sẽ duy trì các các mặt trong có thể nhìn thấy nhưng chỉ ở các góc nhất định. Thay vì tắt hẳn màn hình, nó sẽ chuyển sang màu đen và không có thông tin nào được hiển thị. Dưới ánh sáng của màn hình có lớp gương, nó không mờ đi dưới ánh nắng mặt trời và bảo đảm các số liệu vẫn có thể đọc được.
Những phàn nàn xoay quanh việc màn hình sử dụng công nghệ OLED là không có căn cứ và nó bắt nguồn từ các nhà báo kém cỏi của tạp chí British T3 (các lưu ý này được thể hiện trong các video clip kèm 1 Gb bộ nhớ trong)
Bộ nhớ
Máy được trang bị bộ nhớ 128 Mb. Về mặt kỹ thuật 8600 không khác Nokia 6233 cũng chạy Feature Pack 1 phiên bản thứ 3 S40 với một loạt các tính năng chất lượng
USB, Bluetooth, các ổ khác
USB. Nokia 8600 có khe micro USB hẹp hơn một chút , vì vậy trông khác các miniUSB mà chúng ta quen dùng. Trong tương lai gần, miniUSB sẽ trở thành giải pháp lý tưởng cho các thiết bị trong nhà và đặc biệt là cho các máy thu phát cầm tay. Nokia cũng có kế hoạch lắp ổ này vào các thiết bị ghi nhớ. Mặc dù hiện nay mua được một cáp miniUSB từ các địa điểm bán lẻ là không dễ nhưng không phải là không thể. Các cáp như thế được kèm theo trong các kiện hàng máy MP3.
Người bán dạo nói rằng máy dùng USB 2.0, và thực sự là như vậy; khi trữ hàng loạt USB sự kết nối qua cáp USB cho ta tốc độ truyền dữ liệu ở mức độ trung bình khoảng 500-600 Kb/s- chậm hơn Motorola RAZR2 V8 loại cũng lắp đặt cổng USB.
Khi kết nối thành công bạn có thể chọn một trong các thức ( mode) sau : USB Mass Storage, PC Studio hay thức hiện đại. Phụ thuộc vào mode mà bạn chọn, pin bắt đầu quá trình sạc. Không có sự hỗ trợ của mode MTP, các rãnh âm nhạc phải được nối vào máy bằng tay.
Bluetooth. Máy sử dụng công nghệ không dây Bluetooth 2.0 EDR. Các profile được hỗ trợ:
Hoạt động của Bluetooth thực không có gì phải phàn nàn vì chúng tôi chưa gặp vấn đề gì với loại kết nối này. Hệ thống tai nghe âm thanh lập thể cũng hoạt động tốt.
2.5 mm jack. Con số này lấy từ chi tiết kỹ thuật của bộ headset. 8600 chỉ có duy nhất một ổ cắm chung cho tất cả các kết nối.
Máy ảnh-Camera
Máy có máy ảnh 2mpx (CMOS)- không đáp ứng được nhiều đòi hỏi hiện nay nhưng cũng đủ dùng. Nokia không tập trung vào chi tiết này lắm. Đây là lý do tại sao module của máy ảnh cho 8600 lại là một trong những bộ phận rẻ nhất với chất lượng trung bình nếu không muốn nói là nghèo nàn. Các mức phân giải sau được áp dụng:
- 1600x1200
- 1280x960
- 640x480
- 320x240
- 160x120
Hai mức phân giải tối thiểu được thêm vào để tạo ảnh hợp với phông nền cho màn hình. Có 3 loại nén JPEG là cơ bản, bình thường và cao. Nhìn thẳng vào thực tế rằng các bức ảnh không làm giảm sức tưởng tượng của bạn, tốt hơn là hãy đặt chất lượng tối đa, nó sẽ không tệ hơn thế đâu.
Có thể vô hiệu âm thanh phát ra từ màn trập, có chức năng zoom digital 8x; nhưng chẳng có lý do gì để làm như thế cả. Bạn có thể lưu ảnh vào bộ nhớ trong.
Video. Máy cho phép thu video khổ 3GP với độ phân giải 128x96 pixels, hay 176x144. Chất lượng thu được chia thành 3 giới hạn. Bạn có thể hạn chế chiều dài của đoạn băng thu hoặc không hạn chế đến khi sử dụng hết bộ nhớ trong thì thôi. Những hiệu ứng được sử dụng cho video giống như được sử dụng cho máy ảnh- chúng là một và như nhau.
Pin
Máy sử dụng pin Li-Pol 900 mAh (BP- 5M). Nhà sản xuất ước tính tuổi thọ của pin là 10 ngày ở trạng thái chờ và 3,7 tiếng đàm thoại – tương tự như với Nokia 8800.Tuy nhiên trong thực tế, pin chỉ được 1 ngày với loại 700 mAh.
Điện dung của pin được tăng, các vật liệu khác được sử dụng- tất cả tác động đến tưổi thọ của pin nhưng vẫn chưa tạo ra sự khác biệt toàn diện. Máy chạy lâu hơn Nokia 8800 SE khoảng 10% khi được đặt dưới cùng mức tải (cuộc gọi, tin nhắn SMS, v.v…)- hãy nhớ lại Nokia 8800 SE cũng đã từng cải thiện được 10% so với Nokia 8800. Màn hình của Nokia 8600 lớn hơn mẫu trước đây.
T.Kiệt (ANHVUMOBILE.COM.VN)
|