NOKIA E90 - Mobile Computer Mini
Từ “communicator- máy nhắn tin” do Nokia sử dụng lần đầu tiên nhận bao gồm toàn bộ các thiết bị được trang bị bàn phím QWERTY. Điều đó đã không cản trở các nhà sản xuất khác trong nỗ lực tìm ra các hướng đi cho riêng mình sau khi thiết bị này xuất hiện nhưng đồng thời cũng đặt tên các sản phẩm của họ giống như vậy. Tuy nhiên các thiết bị đơn giản này làm sao sánh kịp các Nokia communicator về các tính năng. Motorola communicator A 100 là một ví dụ. Đây là một thiết bị cơ bản phục vụ việc soạn tin nhắn SMS. Qua các động thái như vậy, các công ty vô tình phơi bày khoảng cách giữa các sản phẩm của chính họ với sự phát triển của những công ty đứng đầu thị trường đã có lịch sử lâu đời. Mặc dù có tuổi thọ pin ngắn, kích cỡ lớn, các communicator luôn bắt mắt và được cường điệu hoá lên về các tính năng của nó. Tuy vậy giá cả quá cao đã khiến cho nhiều người từ bỏ ý định mua chiếc máy này. Khi thị trường điện thoại chỉ mới đang nhen nhúm, những sản phẩm như thế đôi khi bị ứ đọng (do tác động của giá cả ) mặc dù các công ty đã có những biện pháp khắc phục. Lý do cho sự thờ ơ của khách hàng là gì?

Lý do là ở chỗ bạn không những phải tạo ra một sản phẩm hấp dẫn mà còn phải chắc chắn rằng nó sẽ đến thị trường đúng lúc khi mà người tiêu dùng sẵn sàng tiếp nhận nó. Vào những năm 90, rất ít những người nhiệt tình sẵn sàng làm chủ những communicator và chi ra một khoản tiền lớn; một phần lý do nữa là các dịch vụ mạng vẫn chưa được phát triển mạnh. Hãy xem xét một ví dụ nhỏ - trong khi vào đầu những năm 90 e-mail chỉ được các công ty sử dụng, ngày nay nó đã trở thành một cái gì đó rất thông dụng. Cuộc sống hiện đại không thể thiếu e-mail-câu chuyện về những người cố gắng từ bỏ nó chỉ khẳng định thêm điều này mà thôi. Hãy tưởng tượng ngày nay bạn tung ra một sản phẩm chủ yếu là xử lý các e-mail, các văn bản,.v.v..thì đa số sẽ cho rằng đó là một điều nhảm nhí hay một sự lãng phí tiền bạc. Các tập đoàn mất nhiều thời gian mới đồng ý trang bị cho các uỷ viên ban quản trị máy tính xách tay và các sổ nội mạng để có thể kết nối với phòng khách sạn hoặc các trụ sở dù họ ở bất kỳ nơi đâu. Tôi cần nhắc lại rằng tại thời điểm đó, Wi-Fi và các công nghệ loại này vẫn chưa xuất hiện. Chỉ đến giữa những năm 90 thì trong phòng đợi của thương gia tại các sân bay lớn mới có đường dây cáp để trao đổi thông tin. Sản phẩm này được xếp vào dòng communicator tồn tại ngoài môi trường và chỉ chiếm chút không gian, nhờ công sức của các “tichi”- những người hi sinh nhiều cho một máy cải tiến như thế. Các communicator đầu tiên của Nokia chạy trên nền hệ điều hành GEOS không có gì cải tiến ngoài các kích thước nhỏ hơn so với các laptop: tính năng giống laptop nhưng có thể mang theo một cách thuận tiện với khả năng gập lại gọn nhẹ. Tuy nhiên, sự ra đời của các PDA và Psion khác nhau đã gây trở ngại cho dòng communicator.

Có thể nói rằng dòng máy communicator là một giải pháp hữu hiệu của Nokia. Nhưng câu hỏi đặt ra là tại sao họ lại bỏ tiền phát triển các thiết bị ít thị trường như vậy và cứ chuyển hết khái niệm sang khái niệm khác (chuyển từ hệ điều hành GEOS sang Symbian, đưa ra nền 80 rồi sau đó lại loại bỏ nó để sử dụng S60 trong Nokia E90)? Câu trả lời không có gì mới cả. Công ty đang đợi môi trường thuận lợi để cho ra đời các sản phẩm này. Thực ra thì Nokia nhằm vào thị trường các máy tính có sổ ghi chép và các thiết bị tương tự mặc dù thị trường như thế không tồn tại- đó chính là vấn đề. Các thiết bị này không thể dành được thị trường rộng lớn do mạng lưới chưa phổ biến và mọi người cũng chưa biết cách sử dụng. Một thiết bị hay ứng dụng mọi người không biết sử dụng thì tất nhiên khó tránh khỏi thất bại. Nhớ lại định luật mà Newton đã tìm ra nhờ quan sát quả táo rơi- dù là phát minh mới nhưng không được biét đến do mọi người không rõ nó được tạo ra với mục đích gì.

Với sự phát triển của thị trường máy di động, các communicator ngày càng có giá nhưng đó chưa phải là một đột phá. Các mẫu này vẫn có ít thị trường. Bước chuyển có lẽ đang hé mở cho chúng ta khi Nokia chuyển biến mạnh tiến tới một quan niệm về một communicator mới. Nokia 90 bỏ tất cả các chất liệu được sử dụng cho hệ điều hành 80. Từ nay không thiết bị nào sử dụng chúng nữa. Do vậy, phần mềm, bao gồm các ứng dụng hệ thống được lắp đặt trước cùng với các mẫu trước đó và các chương trình điều tiết, sẽ không có ở Nokia 90. Đây là một mất mát lớn. Giá như công ty quyết định bắt đầu nhánh mới của các hệ điều hành hay giao diện ( nền ). Nhưng dù sao Nokia đã ứng dụng nền S60 danh tiếng, nghĩa là tất cả các ứng dụng dành cho phiên bản lần thứ ba của S60 sẽ không có vấn đề gì với việc hoạt động trên thiết bị này. Một giải pháp khôn ngoan để giải quyết tất cả các vấn đề. Những người luyến tiếc Psion V cuối cùng có thể thôi mơ tưởng khi Nokia E90 hoàn toàn không có điểm chung nào với dòng Psion- Nguồn gốc của sản phẩm này là từ một lĩnh vực hoàn toàn khác. Dù hơi mâu thuẫn với những gì đã nói ở trên nhưng Symbian, Series 60,và sau đó là S60 đều bắt nguồn từ Psion, mặc dù mã của Psion chưa bao giờ được sử dụng trong Series 60.

Ý tưởng cốt lõi của Nokia nằm ở khả năng tương thích, cả phần cứng và phần mềm , với các điện thoại thông minh chạy trên nền S60 hiện hành. Nó là một giải pháp Feature Pack 1 tái bản lần thứ 3 của S60. Quan niệm của Nokia E90 là độc nhất – các nhà phát triển đã chọn cái tốt nhất của các smartphone S60 tiêu chuẩn và dòng communicator. Tất cả các communicator trước đây với vỏ đóng có giao diện giống nền 40 hay các điện thoại bình thường tương tự- khi thiết bị mở sự tích hợp của giao diện với mode communicator sẽ không sâu ( về danh bạ, tiện ích ) . Nokia E90 có những cải tiến cơ bản - cả các ứng dụng tiêu chuẩn và điều tiết đều hoạt động ở các mode đóng (của smartphone ) và mở giật nhẹ. Một ví dụ đơn giản như sau- bạn khởi động một trình duyệt và bắt đầu xem các trang ở màn hình ngoài, sau đó quyết định viết một phúc đáp vắn tắt trên một forum, gõ nhẹ mở máy communicator và xem chính xác trang tương tự với độ phân giải lớn hơn. Bạn có thể gấp máy đóng mở- chuyển các màn hình bao nhiêu tuỳ thích mà máy không bị lỗi gì cả.

Bạn sẽ nhận ra ngay tính độc nhất của phương pháp này khi để ý đến các ý tưởng của các smartphone Windows Mobile; thật chẳng đáng để so sánh với các giải pháp sử dụng hệ điều hành Symbian- một loại hoàn toàn khác về tính năng và quan niệm. Nhu cầu về một bàn phím QWERTY ở các thiết bị chạy trên Windows Mobile là quá rõ và phải bổ sung thiết kế trượt cạnh và một màn hình. Khi được đóng, tất cả các nút điều khiển được sắp xếp theo phương thẳng đứng, hoặc bàn phím số hoặc một bàn cảm ứng trên màn hình kéo máy mở chuyển từ định hướng màn hình sang phong cảnh.

Ở Nokia E90 vấn đề này đã được giải quyết nhờ có hai màn hình: thiết bị giật đóng luôn hướng thẳng đứng, còn mở thì theo chiều ngang. Nói cách khác, một trong hai màn hình được mắc chắc chắn vào một mode cố định. Theo quan điểm của công thái học, có vẻ như chẳng có gì là đột phá vì việc giật mở máy vẫn mất chút thời gian. Hãy tưởng tượng bạn sắp xem phim trên communicator Windows Mobile. Bạn sẽ không phải giật mở mà chỉ phải nghiêng máy sang một bên và cho ảnh chạy với menu (với hầu hết các phần thao tác này chủ yếu là tự động). Nokia E90 giới thiệu một ý tưởng đơn giản hơn nhiều - bạn muốn xem các video clip với chất lượng tuyệt vời ư?- mở máy và xem thôi. Nhà sản xuất khuyến khích sử dụng linh hoạt hơn mode communicator- mode bị khuyết ở các thiết bị Windows Mobile- có nghĩa ý tưởng của họ không mang tính giáo dục cao, nhà sản xuất coi người sử dụng là chuyên gia và biết cần phải làm gì. Nhiều nhà nghiên cứu nhận xét rằng người sử dụng hướng tới các đặc điểm của communicator thường xuyên hơn khi họ phải giật mở hơn là giữ máy ở một mode. Rõ ràng ở đây mối quan hệ nhân quả đã bị phá vỡ, nhưng các cuộc điều tra chỉ ra rằng đây là cách những người không có kinh nghiệm từ từ khám phá ra các tính năng của các thiết bị như thế .

Các ứng dụng được thể hiện một cách hoàn hảo trên cả màn hình trong và màn hình ngoài, tăng hay giảm tỷ lệ để làm đầy một trong hai màn hình. Trong phần cài đặt bạn có thể kích hoạt lựa chọn trước khi thoát( giật đóng máy): ứng dụng sẽ bị thu nhỏ lại hết cỡ(chứ chưa tắt hẳn) thay vì được hiển thị trên màn hình ngoài. Vì vậy bạn sẽ thấy một màn hình ở chế độ chờ tiêu chuẩn- bạn có thể có nhiều ứng dụng cho lựa chọn này. Trong thực tế đây là một cơ hội lớn cho những người sử dụng có trình độ cao.
Kiểu dáng và bàn phím
Các communicator của Nokia là một trong các thiết bị đầu tiên tạo ra nét nổi bật của các phím khía đầy, các kích thước nhỏ gọn và thiết kế gấp. Hình dáng này giúp gợi liên tưởng đến các máy tính sổ tay thông thường- điều này có thể khiến khách hàng cảm thấy nhàm chán. Chẳng có người bán hàng nào lại muốn tung ra những thiết kế như thế trong khi có hàng tá các mẫu khác trong tầm tay. Thế mạnh là nó có thể gập phần đầu cùng màn hình với bàn phím. Nokia 9500 giật mở cung cấp một góc 120 độ phù hợp nhất khi máy được đặt trên bàn khi bạn soạn văn bản. Đặc điểm này bị loại bỏ ở Nokia 9300/9300i giúp người sử dụng có thể đặt hai nửa ở bất kỳ góc độ nào, thậm chí lên đến tận 180 độ- ở trạng thái này hai nửa của máy nằm trên một mặt phẳng.

Nokia E90 có khớp nối giúp giữ hai nửa máy ở hai đầu, các đời cũ hai nửa máy tạo với nhau một góc 100 độ nên không thuận tiện khi đặt trên bàn. Các kỹ sư chọn giải pháp này để bảo đảm các góc 120-130 độ khi bạn đặt máy trên đầu gối để làm việc hay khi làm việc ở bề mặt không bằng phẳng. Cần khoá máy tại vị trí này để bảo đảm khi tàu hay máy bay xóc máy sẽ không chuyển sang vị trí thứ hai. Nhiều người cho đây là nhược điểm của E90 nhưng thực ra chẳng hề phiền hà gì cả- giữa các mặt phẳng 100 và 180 độ bạn có thể bẻ máy tới bất kỳ góc mong muốn nào và máy sẽ giữ ở trạng thái đó ( nếu bạn rung máy quá mạnh thì bạn sẽ không thể kiểm soát được nó). Điều tuyệt vời là E90 gập vào hại vị trí cố định bằng một cú nhắp. Bạn có thể chỉ dùng một tay để giật mở máy nhưng vì máy tương đối nặng bạn nên dùng hai tay. E90 có trọng lượng 210g và kích cỡ 132x57x20 mm trong khi Nokia 9300i chỉ nặng 172g và có kích kỡ 132x51x21 mm. Vỏ có dạng hình chữ nhật rộng hơn nên Nokia E90 trông không nhỏ gọn lắm. Các chất liệu sử dụng càng làm tăng cảm giác này- máy có gờ kim loại bên ngoài và nắp đậy pin cũng bằng kim loại.

Phải thú thực rằng để giật mở Nokia E90 bằng một tay hay lấy máy ra khỏi túi bạn phải tốn chút sức lực. Nếu bị rơi vài lần nó sẽ lộ ra một vòng kim loại bên dưới đoạn bị hỏng. Vì vậy mặc dù máy rất bền bạn đừng bao giờ tác động lên máy một lực lớn như với các đời máy làm bằng nhựa trước kia bởi vì làm như thế nó có thể bị tróc sơn. Chất lượng vỏ của Nokia E90 tốt hơn. Bàn phím quyết định rất lớn đến việc thực hiện chức năng của máy. Chuyển từ Nokia 9300i sang Nokia E90 thực chẳng sung sướng – các phím lồi và lớn hơn khiến bạn không cảm nhận được phím đã ấn nên luôn phải để tâm vào màn hình xem liệu bạn đã thực sự nhấn nút mong muốn chưa. Sẽ không có lời giải thích logic nào về bất tiện này cho tới khi nhà sản xuất cho phản hồi cụ thể - phải thú thực tôi đã mất hai tháng để làm quen và sau hai tháng đó việc soạn văn bản đã trở nên rất nhẹ nhàng vì mặc dù vẫn không hết thất vọng nhưng nó không còn là vấn đề đáng lưu tâm. Từ trước đến giờ, máy cài đặt trước các tổ hợp phím xử lý văn bản ( sao, chọn, dán,.v.v…) và khởi động nhanh các ứng dụng nhất định. Các phím ngũ kim ở hàng đầu cho phép khởi động các ứng dụng mặc định, ngoài ra còn có một phím GPS và hai phím tuỳ chỉnh.

Các phiên bản được khu biệt sẽ có đủ chỗ để cho hai dòng biểu tượng trên các phím. Tất cả các nút chỉ hơi sáng, tuy thế vẫn đủ rõ để bạn quan sát và sử dụng dễ dàng. Độ sáng tối được hiệu chỉnh nhờ một phím chuyên dụng.
Trong các nhược điểm của E90 không thể bỏ qua việc thiếu cần điều khiển vốn là một ưu thế của Nokia 9300i mặc dù E90 có một nút định vị thông thường. Lý do của sự khuyết thiếu này là trình duyệt mới đủ dễ để định vị không cần có cần điều khiển và đây cũng là một giải pháp nhằm giảm số lần các cần điều khiển bị gãy- mặc dù như thế không tạo ra vấn đề gì lớn.Khi cần điều khiển và các phím chuẩn đặt đối diện, các phím chuẩn xuất hiện ở đỉnh.Cách sắp xếp các điều khiển và màn hình với clam đóng là đạt tiêu chuẩn. Màn hình ngoài có độ phân giải QVGA 240x320 pixel 16 triệu màu. Cái cảm biến bên ngoài tự động giảm độ sáng để thích nghi với môi trường, một cảm biến tương tự hoạt động cho màn hình trong. Chất lượng hình ảnh màn hình ngoài thể hiện tốt, tuy nhiên hoá ra lại không bằng những mẫu khác của công ty: nó bị ảnh hưởng do thiếu ánh sáng – không chỉnh được bằng tay - không phù hợp. Tuy thế đặc điểm này chỉ xếp hạng hai và sự thể hiện của nó không phải là tất cả. Dưới ánh sáng mặt trời màn hình có mờ đi, tuy nhiên hình ảnh vẫn duy trì ở trạng thái có thể xem được trong mọi trường hợp. Về mặt kỹ thuật nó có thể được xem như là màn hình chính vì bạn điều chỉnh nó khi đàm thoại hay đọc tin nhắn. Thật đáng tiếc khi cỡ chữ ở các mode làm việc tương đối nhỏ; khi đọc mail tất cả các cột sát vào nhau đến nỗi chẳng đọc được gì. Đó là lý do bạn tiến tới sử dụng mode communicator thường xuyên hơn. Bàn phím số quen thuộc với các máy thông thường – các nút lớn cách nhau vừa phải nhưng công thái học không ấn tượng lắm do thiếu sự di động.Không xoàng như bàn khía bên trong, bàn phím này rõ ràng chỉ ở mức trung bình hoặc tồi hơn chút ít. Không có phím Edit chuyên dụng mà các thiết bị S60 trước đây đều có. Tuy nhiên điều này không tạo bất lợi nào cả- việc xử lý văn bản đơn giản hơn nhiều ở mode communicator. Trên đỉnh màn hình ngoài là nút nguồn đồng thời là nút chuyển profile ở chế độ chờ.

Loa ngoài ở dưới lưới kim loại trông rất kiểu cách. Tất cả các ổ cơ bản- ổ USB mini( không tải trên kết nối cable ), ổ sạc điện, hộp tần số âm thanh 2,5mm, ổ hỗ trợ bộ nhớ micro SD có nắp đậy - được sắp xếp ở cuối đáy. Ổ cắm tiện lợi và có thể thay nóng.
Phần thú vị nhất là màn hình trong.Màn hình có độ phân giải 800x352 pixel là một cải tiến so với các chất nền chuẩn 640x200 trước đây ( nó thường là sự đầu tư liên tục của các communicator ). S60 cho phép lắp đặt các loại màn hình mới cho các communicator, tăng độ phân giải và kiểu dáng luôn thay đổi. Chất lượng hình ảnh hoàn hảo với màu sắc đẹp và các chi tiết sắc nét. Bạn có thể xem phim với cả màn hình lớn( 16:9); quan trọng hơn trong phần lớn các trường hợp bạn không phải đổi lại màn hình như trường hợp với Nokia N93. Màn hình có thể hiển thị tới 16 triệu màu và không thay đổi dưới ánh sáng mặt trời ( TFT ). Các chi tiết kỹ thuật của màn hình lý tưởng cho việc xử lý các văn bản, lướt các trang web, .v.v...- đây là đặc điểm độc đáo của Nokia E90 trong giới smartphone hiện nay.
Máy ảnh- Camera.
Từ lâu chúng ta đã quen với suy nghĩ rằng một máy di động thương mại đặc biệt là các máy dòng E chẳng cần gì một camera. Nhưng theo như xu hướng gần đây thì các tính năng chụp ảnh nên được kết hợp trong các máy điện thoại như thế và đó là cách Nokia loại bỏ chất nền CMOS 3,2 Mpix. Chất lượng của các bức ảnh bạn chụp rất tuyệt không thua kém gì so với Nokia N93i và Nokia N73. Trong thực tế về khía cạnh này thì Nokia E90 có chất lượng thực sự.
Phía dưới camera không có cửa đóng nên hút bụi dễ dàng. Bộ phận camera được sử dụng ở đây khác so với camera ở các thiết bị đã có mặc dù nó cũng cho các ảnh chụp nhanh rất chất lượng.
Tuổi thọ pin
Nokia E90 sử dụng pin Li-Pol 1500 mAh ( BP-4L) có khả năng trữ tốt nhất cho các sản phẩm như thế hiện nay ( ở đời điện thoại này chỉ Nokia E6ii mới có thể có loại pin như vậy) – Nokia 9300i dùng pin 1100mAh ( BP- 4L). Tuổi thọ pin dài hơn chủ yếu do các màn hình tiêu tốn năng lượng hơn mà thôi– và loại pin tuổi thọ ngắn sẽ không đáp ứng được nhu cầu này. Nếu đem ra so sánh thì ta thấy thời gian đàm thoại và thời gian chờ ở 2 máy là tương đương; như vậy hầu hết năng lượng dư ra là do màn hình trong lớn hơn tiêu thụ.
T.Kiet ( ANHVUMOBILE.COM.VN )
|